Tài liệu bậc Lực – Kinh Hoa Nghiêm phần 3 – Bố cục kinh Hoa Nghiêm

Chuyên Mục: Phật Pháp 111 0
  1. Bố cục kinh Hoa Nghiêm:

Theo Ngài Quốc sư Thanh Lương thì bộ Bát Thập Hoa Nghiêm được chia làm 3 phần:

  • Phần Tự: Có 5 quyển
  • Phần chính tông: có 55 quyển, 5 phẩm
  • Phần lưu thông: 19 quyển, 5 phẩm, gồm 4 yếu lý: Tìn, Giải, Hành, Chứng và 5 Chu:
  1. Tín nhân quả chu: 11 quyển, 6 phẩm
  2. Giải – Sai biệt nhân quả chu, 41 quyển
  3. Giải – Bình đẳng nhân quả chu, 31 quyển.
  4. Hành nhân quả chu; 7 quyển, 1 phẩm.
  5. Chứng nhân quả chu: 21 quyển, 1 phẩm.

 

4 yếu lý phải tự quán xét khi đọc tụng kinh Hoa Nghiêm:

Tín: Đức tin, niềm tin, tin tưởng tuyệt đối; cội gốc đức tin sâu vào lời Phật thuyết là chân thật không gì  lay chuyển được (Ngũ căn ngũ lực)

Giải: Giải rõ chân lý – Lời nói của chư Phật có khi cao thâm khó lường nên cần phải huân tập có thời gian, càng tu hành càng thấu triệt chân lý giác ngộ.

Hành: Tu hành theo chánh pháp, thực hành tu tập để đạt đến chân lý đó

Chứng: Chứng ngộ chân lý, từ Tứ gia hạnh bị đến Tứ thành quả; từ Bồ tát Sơ địa đến Thập địa.

  1. Về Triết lý gồm những điểm then chốt như sau:
  2. Nhất thiết duy tâm tạo
  3. Nhất tâm chân như, Pháp giới duyên khởi.
  • Từ Bản thể Chân như của vũ trụ phát sinh các hình tướng sai biệt trong Hiện tượng giới.
  • Từ tuyệt đối thể vô biên, chuyển sang thế giới tương đối hữu thể, để biện minh cho cái Chân tướng-vô tướng của vạn pháp và chân lý tối thượng bất diệt là: Mọc sự việc xảy ra trên trần gian đều từ “Chân không-diệu hữu” mà phát sinh. TỪ một mảy lân-hư trần cho đến sơn hà-trăng sao, cùng mọi sinh vật đều phải nương tựa lẫn nhau, làm nhân duyên cho nhau mà biến dịch, sinh tồn trong mối tương quan của Lý pháp giới trùng trùng duyên khởi.
  • Pháp giới Duyên khởi là tên gọi khác của Thập nhị nhân duyên vẫn hiện hữu từ vô thủy đến nay, đức Phật đã thấu suốt sau khi thành đạo. Đức Phật đã thuyết giảng 12 nhân duyên trong giáo lý A Hàm. Phật căn cứ vào Lý Duyên khởi của Khổ giới mà lần lượt nói ra sự liên hệ nhân quả giữa 12 chi, nguồn gốc căn bản của khổ não là Vô minh, và những gì được gọi là Pháp hữu vi, là sự sự, vật vật hay vạn pháp trong thế giới duyên sinh trùng trùng điệp điệp này. Với chân lý “Nhân quả” và “Duyên sinh”; Với chân lý “Bất nhị” cùng “Lý, Sự và Sự sự vô ngại pháp giới”, kinh Hoa Nghiêm đã xác nhận mọi hành động về Thân-khẩu-ý của con người đều tạo nghiệp quả cho mình và cho tha nhân đồng phải gánh chịu trong cái thế liên hoàn trùng trùng điệp điệp. Một là tất cả và Tất cả là một.
  • Muốn hiểu rõ các Pháp duyên khởi sinh ra vạn hữu như thế nào cần phải quán thông Tứ pháp giới, sáu tướng, và thập huyền môn.
  1. Tứ Pháp Giới:

Vũ trụ vạn hữu do từ “Nhất Chân Pháp giới (bản lai thanh tịnh) mà thành lập:

  1. Ở thế giới của Sự vật có hình tướng sai thù (khác biệt) là Sự Pháp Giới.
  2. Ở thế giới của lý trí và tinh thần là Lý Pháp Giới.
  3. Thế giới của Lý và Sự dung thông nhau, không ngăn ngại là Lý Sự vô ngại pháp giới.
  4. Thế giới của Sự và Sự, nghĩa là hết thảy sự vật trong hiện tượng giới đều gọi là Sự Sự vô ngại pháp giới.
  5. Sự Pháp giới: Là hình sắc, vật chất gồm vô lượng hình tướng khác nhau (sai biệt). Cảnh giới này sinh diệt vô thường, như ráng mây huyễn biến trên trời cao, như sóng, bọt sóng chìm nổi ngoài biển cả; tùy nghiệp duyên thiện, ác, không thiện không ác mà biến hiện nhiều hình tướng khác nhau.

Sự Pháp Giới chính là mọi hiện tượng trong trời đất, biểu dương một sức sống mãnh liệt khởi lên từ một nguồn năng lượng duy nhất là Tâm Chân Như. Các Pháp đều có tự thể và giới hạn to nhỏ, rộng hẹp, ngắn dài bất đồng nên gọi là Pháp giới. Trong khung cảnh hẹp thì pháp giới chỉ cho giới hạn của mỗi pháp; nhưng trong phạm vi rộng thì nó chỉ cho toàn thể không gian bao la.

  1. Lý Pháp Giới: Là Tâm hay bản thể, chỉ cho phần Chân như môn của Như Lai tạng . Cảnh giới này là Hư linh, vắng lặng, trong suốt, diệu huyền, bao trùm toàn thể vũ trụ bất sinh, bất diệt, bất khứ, bất lai.. có đủ bốn đức tính Thường- Lạc-Ngã- Tịnh tức Niết bàn.

Lý pháp giới hay Chân như tuyệt đối, bình đẳng, nhất như, vô phân biệt, là cái nguyên lý đại đồng phổ cập cho toàn thể, cũng gọi là Pháp thân, Pháp tánh, Thể tính, Thực tướng hay Bản thể Chân không của vạn pháp, hay cái Bản lai diện mục của mỗi chúng sinh.

  1. Lý Sự vô ngại Pháp giới: Là thế giới của Sụ và Lý hoàn toàn dung thông không mâu thuẫn, ngăn ngại nhau. Vì muôn pháp đều huyễn hoặc vô thường nên mọi Sự đều là Lý. Bởi Chân như, tự tính hay thực thể đều tùy duyên biến hiện nên mọi Lý đều là Sự. Lý nhờ sự mà hiển thì Sư nhờ Lý mà thành.

Trong mỗi Lý đều có Sự, và trong mỗi Sự đều có Lý. Sự là Sắc, Lý là Không “ Sắc tức thị không-Không tức thị Sắc; Sắc bất dị Không-Không bất dị Sắc”. Nói Lý và Sự vô ngại là nói Tâm tức Vật-Tinh thần tức Vật chất hay Năng lượng tinh thần(E) là khối lượng vật chất (E=MC2)

Nói Lý và Sự vô ngại là nói Lý tức là Sự; Sự tức là Lý – Tinh thần là vật chất ở thể loãng mà Vật chất là tinh thần ở thể cô đọng lại (Tinh thần là năng kiến, vật chất là sở kiến). Trên mặt bản thể vô sai biệt thì Lý và Sự, hoặc Không và Sắc, Tâm và Vật đều viên dung hòa hợp, dung thông, dung nhiếp với nhau để cùng tồn tại. Không thể tách rời Lý ra khỏi Sự, hay Sự ra khỏi Lý thành hai thứ riêng biệt được. Lý và Sự như Nước với Sóng, Không khí với Lân hư trần. Sóng yên thành Nước, Nước nổi thành Sóng; Lân hư trần kết hợp thành Không khí, Không Khí tan ra thành Lân hư trần; Không thể phân biệt ngoài Sóng có Nước, ngoài Không khí có Lân hư trần, vì hai thứ đó đan kết chằng chịt với nhau, cho nên Chân không chẳng rời Diệu hữu.

Bàn về Lý-Sự vô ngại tức là nói đến Thể-Tướng-Dụng viên dung. Tướng là hiện tượng của Thể, nương vào bản thể mà phát sinh. Thể và Tướng bao giờ cũng dung thông, dung nhiếp với nhau nên công dụng của vạn hữu hóa ra vô cùng. Mỗi pháp đếu có Lý và Sự hòa hợp với nhau, tuy hai mà một, tuy một mà hai, nhưng Sự vẫn là Sự, Lý vẫn là Lý. Cũng như nước tuy là sóng, sóng tuy là nước, giống nhau ở mặt bản thể mà vẫn dị biệt về mặt hiện tượng.

Lý và Sự trong mỗi pháp đều đã viên dung vô ngại thì Lý và Sự trong vạn pháp cũng đều viên dung vô ngại. Viên dung là bao trùm, hòa hợp với nhau, hòa tan trong nhau như sữa với nước để trở thành một thể duy nhất. Vô ngại tức là không có chi ngăn ngại, tự do, tự tại vào ra mà không gây mâu thuẫn chướng ngại cho nhau trong cái thể tương tùy, tương sinh, tương tức, tương nhập

Tương tùy, tương sinh: Bốn đại (mahābhūta, the four great elements) là bốn loại năng lượng: đất (pṛthivii – rắn chắc), nước (apas – thấm nhuận), gió (vāyu – sức mạnh), lửa (tejas – nhiệt lượng). Bốn yếu tố đó dung chứa nhau, làm ra nhau và đều có tính chất vô ngã. Mỗi thứ năng lượng đó đều có thể biến ra thứ năng lượng khác. Nước có thể biến ra điện, ra lửa. Đừng nghĩ rằng tứ đại là những thứ độc lập, riêng rẽ – vì cả bốn đều liên quan chặt chẽ với nhau. Nhiều khi người ta cũng nói tới các đại thời giankhông gian, thứcphương hướng, nên ta có tới 8 đại thay vì 4 đại. (Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói có 7 đại. Tứ đại thêm Kiến đại, Thức đại và Không đại)

Thời và không là thời gian và không gian. Thời gian nương vào không gian mà hiện hữu. Vật chất nương vào thời gian, không gian mà có. Khoa học đã chứng minh rằng nếu không có không gian thì không có vật thể và nếu không có vật thể thì không có không gian. Không gian và vật thể làm ra nhau. Albert Einstein đã nói rất rõ rằng thời gian và không gian là hai mặt của cùng một thực thể.

Duy Biểu học bài tụng thứ 35:

Thời, không và bốn đại
Đều do thức hiện bày.
Tương tức và tương nhập
Dị thục từng phút giây.

Tương tức và tương nhập. Tất cả các hiện tượng, một trái núi, một đám mây, một hạt bụi đều có tính chất tương tức tương nhập. Cái này bao trùm cái kia. Cái kia nằm trong cái này. Phật đã nói một cách rất đơn giản mà uyên thâm: “Cái này có vì cái kia có” (Trung A Hàm).

Tương tức và tương nhập là hai ý niệm của Hoa Nghiêm. Tương tức nghĩa là cái này là cái kia (inter-are), tương nhập nghĩa là cái này đi vào cái kia (inter-penetration). Trong nhận thức tương tức, tương nhập thì đám mây nằm trong bông hoa và bông hoa nằm trong đám mây. Điều này có thể quán chiếu. Lưới đế châu của trời Đế Thích (Indra nest) gồm những hạt châu lóng lánh nối kết với nhau, là hình ảnh tuyệt diệu của tính tương tức, tương nhập.

Dị thục từng phút giây. Dị thục được phát sinh từng phút giây chứ không xảy ra sau một thời gian dài. Dị thục trong mỗi giây phút cho nên chúng ta luân hồi trong mỗi giây phút. Tôi bây giờ mới sinh. Tôi hôm qua đã chết. Và tôi bây giờ đang sinh từ cái tôi của ngày hôm qua. Sự sinh ra và sự diệt vong lúc nào cũng chuyển động, biến hóa khác đi.

Người ngộ đạo hiểu rằng: Lý không phải hiển hiện suông như không gian vô hình vô tướng, mà Lý chính là Thế giới hiện tượng diệu hữu muôn ngàn sai khác hiển hiện trước mắt mọi người. Khji mê, chúng sanh sống trong điên đảo mộng tưởng thì Sự và Sắc bên ngoài trở thành riêng biệt, có giới hạn, ngăn ngại nhau, rời rạc khắp đó đây. Nhưng dưới cặp mắt tuệ quán (nhìn theo triết lý Hoa Nghiêm) thì không có sự sai biệt, các sự vật dường như được an bài trật tự, nghiêm minh trong thế giới của Lý thể bên trong khiến cho Sự chính là Lý; Lý chính là Sự, hay Thể tức là Tướng;Tâm tức là Vật, Tự tức là Tha.

Lý Sự vô ngại hay Thể-Tướng viên dung nghĩa là cái lý huyển diệu của vũ trụ cùng với sự vật hữu hình trên hiện tượng giới không phải là hai, mà cũng không phải là một. Thực tại bao hàm đặc tính lưỡng diện, vừa sai biệt trên mặt hiện tượng lại vừa đồng nhất trên mặt bản thể. Cho nên sự vật luôn luôn tương dung, tương nhiếp, tương tức, tương nhập.

Lý là Thể của Tướng-Dụng; Sự là Tướng-Dụng của Lý. Lý tính là toàn Sự; Sự Sự là toàn Lý tính.

Lý đã tức là Sự nên Lý không ngoài Sự, mà Sự cũng không ngoài Lý. Lý không ngại Sự mà Sự cũng không ngại Lý. Mỗi trần không ngại, mỗi pháp dung thông. Vì thế mà đưa tới tư tương “Sự Sự vô ngại pháp giới” là đỉnh cao chót vót của triết lý Đông phương nói chung và của triết lý Hoa Nghiêm trong đại thừa Phật giáo nói riêng.

Lý Sự vô ngại pháp giớiLý hay Không thì dĩ nhiên là vô ngại rồi, vì vô tự tánh, như hư không. Nhưng Sự hay Sắc cũng vô ngại, vì vô tự tánh, không có một bản chất nào để ngăn ngại cái gì, huống là ngăn ngại tánh Không. Lý Sự vô ngại với nhau vì cả hai đều vô tự tánh.

Nhìn sâu hơn, Sự hay Sắc là vô tự tánh nên nó chính là tánh Không. Ở đây, chúng ta nhớ lại Bát-nhã Tâm kinh, “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc. Sắc tức là Không, Không tức là Sắc”. Nói theo ngôn ngữ của tông Hoa Nghiêm, thì “Sự chẳng khác Lý, Lý chẳng khác Sự. Sự tức là Lý, Lý tức là Sự”. Ngoài Sự không có Lý, ngoài Lý không có Sự. Lý và Sự là đồng nhất; do đó, Lý và Sự vô ngại với nhau. Lý và Sự tương tức tương nhập, tương dung tương nhiếp với nhau.

Một thí dụ: một bọt sóng (Sự) và biển (Lý). Bọt sóng từ biển mà khởi lên, có mặt, rồi lại tan vào biển. Bọt sóng và biển đồng là nước nên vô ngại với nhau. Biển bao hàm tất cả mọi bọt sóng và ngược lại một bọt sóng chứa đựng cả biển lớn vì đồng một vị nước. Nguyên lý Một tức Tất cả, Tất cả tức Một áp dụng vào thế giới Lý Sự vô ngại là: Một Lý là Tất cả Sự, Tất cả Sự là Một Lý. Một Sự là Tất cả Lý, Tất cả Lý là Một Sự.

  1. Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới:

Sự, chỉ các cá thể trong vũ trụ, hay mọi pháp, hoặc toàn thể không gian, thời gian vô cùng tận. Cách nói Sự Sự vô ngại pháp giới là nói Thời gian dung thông với thời gian – Không gian dung thông với không gian. Tam giới – Tam thế và mười phương dung thông với nhau – Một dung thông với tất cả – Tất cả dung thông với Một.

(Từ không gian có thời gian, từ thời gian ta có phương hướng đều do Thức biểu đạt)

Ngày nay, khoa học vật lý không gian đã chứng minh được bằng thuyết tương đối của Albert Einstein , đặc biệt là Không gian-Thời gian 4 chiều, nêu rõ ý nghĩa Không gian-Thời gian, tức là xóa tẩy sạch phân cách tuyệt đối giữa vật chất và năng lượng; giữa tinh thần và vật chất, không cần có hai sự vật tương đối có tự thể riêng biệt nữa, và chúng chỉ là những pháp tương đối mà thôi. Vì thế mà người ta đã dung danh từ Không-Thời gian để gọi chung cho hai sự vật đó mới đúng Lý, vì tính cách của chúng vốn dung thông vô ngại.

Ngày nay, muốn đo lường những khoảng cách không gian quá xa người ta phải sử dụng đến đơn vị “quang niên”, là khoảng cách 900 tỷ Kilomet, hay 9 triệu triệu cây số, tính theo tốc độ ánh sáng 300.000km/gy – Như vậy Không gian-Thời gian không còn ngăn ngại nhau nữa. Sự vật truy bề ngoài trông có vẽ riêng rẽ, nhưng bên trong lại tương tức, dung thông vô ngại. Với chân lý này thì sự sự, vật vật trong pháp giới bao la được quan sát trong suốt như qua một tấm pha lê không bị che khuất, chướng ngại gì cả. Chẳng những cái Đồng(Thể-Tính) ánh chiếu trong cái Dị(Sự-Tướng); và cái Dị ánh chiếu trong cái Đồng, mà mỗi sự, mỗi vật (Sự-Sự) đều ánh chiếu trong nhau. Vì tất cả Sự đều toàn một Thể-Tính là Lý, mà Lý đã dung thộng vô ngại với nhau thì tất cả sự này, sự khác cũng đều dung thông vô ngại với nhau.

Giáo lý Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới chỉ có thể thấu triệt được khi ý thức con người hoàn toàn nhập vào cảm nghĩ về sự diễn biến vô ngã, vô thường bất tận của toàn thể vạn hữu trong vũ trụ bao la, dàn trải ra trước mắt mọi người, mà chỉ có trực giác tâm linh mới mở được then cửa cho ta thâm nhập vào nơi cấm địa của  thế giới mầu nhiệm u huyền này mà thôi.

Đỉnh cao nhất của triết học, khoa học, văn chương, tư tưởng của con người cũng chỉ tư duy đến mức Lý Sự vô ngại. Đó là chỉ nói đến lãnh vực tư duy, chứ trong lãnh vực chứng nghiệm thật sự thì điều đó càng khó khăn hơn nữa.

Đến Sự Sự vô ngại thì thoát hẳn mọi tư duy con người có thể vươn tới, đây là kinh nghiệm của những tầng thánh cao nhất.

Một sự là vô tự tánh như những sự khác là vô tự tánh. Vì một sự là vô tự tánh, nghĩa là vô ngại, nên nó chứa đựng, dung nhiếp tất cả các sự cũng vô tự tánh và vô ngại khác mà không làm hư hoại, trộn lẫn.

Nguyên lý Một tức Tất cả, Tất cả là Một bây giờ được nhìn thấy trong thế giới của những sự với nhau. Một sự trùm chứa tất cả sự. Tất cả sự nhập vào trong một sự.

Nói theo Bát-nhã Tâm kinh, thì vì Sắc tức là Không, nên một sắc trùm chứa và nhập vào tất cả sắc. Tất cả sắc nhập vào trong một sắc mà không sắc nào bị hư hoại hoặc trộn lẫn.

Lấy thí dụ bọt sóng và biển ở trên. Một bọt sóng không chỉ bao hàm tất cả biển lớn mà một bọt sóng bao hàm tất cả những bọt sóng, những giọt nước khác của biển cả mà không xen tạp, không trộn lẫn, không làm mất đi không gian, thời gian riêng của những bọt sóng biển khác.

Toàn bộ kinh Hoa Nghiêm hầu như phẩm nào cũng hiển bày Sự Sự vô ngại pháp giới này. Đặc biệt là đoạn chót của phẩm Nhập Pháp giới, khi Đồng tử Thiện Tài bước vào “lầu các của Đức Di Lặc.” Lầu các đó là thế giới Sự Sự vô ngại:

Chỗ một đầu lông vô lượng cõi
Phật, chúng sanh, kiếp bất khả thuyết
Thấy rõ như vậy đều cùng khắp
Lầu này của bậc Vô Ngại Nhãn
Một niệm nhiếp khắp vô biên kiếp
Quốc độ, chư Phật và chúng sanh.

Thói thường người ta chỉ quen dùng trí thức suy luận để hiểu sơ qua một việc gì, rồi sau đó mới dùng đến tâm chứng để hiểu thấu đến ngọn nguồn của sự việc ấy. Nhưng đột nhiên, ta lại thấy ngay chân lý hiển lộ rõ ràng trong một sát na đốn ngộ, vượt hẳn ra ngoài tầm lý luận, nghĩa là ngoài khả năng hiểu biết thông thường của tập quán trí thức.

Đối với những mối tương quan giữa Lý và Sự – Không và Sắc – Tâm và Vật thì ngoài cách dùng ngôn ngữ, biện luận của thế gian để giải thích thì càng phải cần dùng đến phương pháp đặc biệt của trực giác bén nhạy mới mong thấu triệt được phần nào cái lý sâu sắc khó nói, khó nhập đó của tâm thức. Nói cách khác muốn hiểu rõ tư tưởng Sư Sự Vô Ngại Pháp Giới thì phải nhìn đời bằng đôi mắt tuệ Bát nhã siêu việt mới thấy được thể tính của mọi sự vật mà thôi. Khi đã thấy được thể tính của mọi sự vật chỉ là một, mà không phải là hai thì còn gì ngăn ngại nữa!  

Dưới đôi mắt của đức Phật và chư Bồ tát, đã vượt qua khỏi ba cõi (Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới), thì hết thảy các pháp hữu vi có hình tướng sai biệt trong vũ trụ tương đối và nhị nguyên đều như chiêm bao, ảo mộng, bóng chớp, sương mai.. không có gì là thật cả. Bồ tát đã chứng được cảnh giới bất tư nghì giải thoát rồi thì thân tâm được tự tại, có thể qua lại bất cứ nơi đâu, có thể làm được những việc mà người bình thường không thể làm nổi, có thể kéo dài một sát na thành muôn kiếp, lại có thể thâu gọn muôn kiếp trong một sát na, cũng như có thể thu càn khôn nhét vào một hạt cải, như lời Thiền sư Khánh Hỷ thời Lý đã nói:

Càn khôn tận thị mao đầu thượng (trời đất thu nhỏ như đầu sợi lông)

Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung (nhật nguyệt nằm trong hạt cải mòng)

(viên đạn có một điểm nhỏ xíu để kích nổ, bom mìn cũng có những ngòi nổ nhỏ xíu, đến bom nguyên tử cũng vậy, trọng điểm nằm ngay cái ngòi nhỏ xíu!)

Dưới nhãn quan của những hàng giả thấu triệt triết lý kinh Hoa Nghiêm, người ngộ đạo nhìn sự vật suốt qua Sắc, qua Sự, không thấy tướng bề ngoài sai khác nhau, mà chỉ thấy cái tướng bên trong , hay cái thực tướng vô tướng, tức là chỉ thấy cái Lý, hay cái bản thể chân không của mỗi sự, mỗi vật trên trần thế giống nhau như đúc mà thôi. Và nếu quan sát như vậy thì thấy Lý và Sự đều viên dung vô ngại cả. Mọi sự vật và mọi sự việc trên trần thế đều hòa hiệp với nhau, tan biến trong nhau tương tức vô ngại, thành một khối nhất như viên dung tuyệt mỹ, đâu còn sự đấu tranh về quyền lợi, những sự mâu thuẫn, phân biệt, thị phi, và chia cách giống nòi, giai cấp nữa!

Lưu ý:  Trong biện luận lý giải Phật học có đưa ra 4 tiêu đề để nhận dạng và ứng dụng, đó là: DANH – TƯỚNG – THỂ – DỤNG. Danh Tướng là phần hình sắc, bố cục, cấu trúc bên ngoài, và Thể Dụng là phần công năng, ứng dụng bên trong. Nên khi trong phần Lý Sự pháp giới; hay Sư Sự pháp giới vô ngại thường sử dụng các tiêu đề này.

Phước Châu

 

 

 

Bài Viết Liên Quan

Thêm phản hồi